Tuyên truyền về việc phòng chống bệnh thủy đậu

Hiện nay bệnh thủy đậu bắt đầu xuất hiện tại các khu vực đông dân cư, nhà trẻ, mẫu giáo, trường học,… Bệnh có xu hướng lây lan nhanh và có thể bùng phát thành dịch nếu không kiểm soát và phòng tránh kịp thời.

 1. Bệnh thủy đậu là gì?

Bệnh thủy đậu do một loại siêu vi mang tên Varicella Zoster Virus (VZV) gây nên, thủy đậu là một bệnh rất dễ lây truyền.

 2. Triệu chứng của thủy đậu

Bệnh xảy ra phần nhiều ở trẻ em, nhưng cũng không ít người lớn mắc bệnh này. Thông thường, từ lúc nhiễm phải siêu vi, đến lúc phát ra bệnh - được gọi là thời gian nung bệnh hoặc ủ bệnh là khoảng 2 đến 3 tuần.

Bệnh thủy đậu sẽ xuất hiện 10 đến 14 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh, khởi phát bệnh thường đột ngột với dấu hiệu đầu tiên có thể là ban ngứa; trẻ nhỏ thường kèm sốt nhẹ, biếng ăn; ở người lớn hay trẻ lớn thường kèm sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói và mệt mỏi.

Mụn nước xuất hiện rất nhanh ở vùng đầu, mặt, chi và thân và có thể lan toàn thân trong vòng 12 đến 24 giờ.

Mụn nước có đường kính từ 1đến3mm, chứa dịch trong; những trường hợp nặng mụn nước sẽ to hơn, khi nhiễm khuẩn mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ.

Bệnh sẽ kéo dài từ 7 đến 10 ngày nếu không có biến chứng, các mụn nước sẽ khô dần, bong vảy, thâm da, không để lại sẹo; nếu bị nhiễm khuẩn mụn nước có thể để lại sẹo.

 

3. Bệnh lây lan như thế nào?

Khi một người mang siêu vi thủy đậu nói, hắt hơi chảy nước mũi hoặc ho … thì các siêu vi đó theo nước bọt, nước mũi bắn ra ngoài. Người khác hít phải sẽ lây bệnh ngay. 

Bệnh có thể lây lan qua sự tiếp xúc trực tiếp đến ban ngứa từ người bị thuỷ đậu hoặc qua sự tiếp xúc đến quần áo hoặc vải trải giường bị ô nhiễm bởi chất dịch từ ban ngứa hoặc từ miệng hay mũi của người bị bệnh.

Bệnh thủy đậu có thể lây từ 1 đến 2 ngày trước khi nổi ban ngứa cho đến khi tất cả những vết phồng đã đóng vảy (thông thường trong vòng 5 ngày từ khi những vết phồng nổi lên).

Những người có hệ miễn dịch bị suy yếu thì có thể phải mất một thời gian lâu hơn để những mụn nước của họ đóng vảy.

Nếu một người bị nhiễm bệnh thì khoảng 90% những người chưa từng bị thủy đậu trong gia đình sẽ bị lây bệnh.

4. Tác hại và biến chứng của thủy đậu

Bệnh thủy đậu là một bệnh lành tính, tuy nhiên chúng ta phải chăm sóc, điều trị tốt để đề phòng những biến chứng nguy hiểm.

Biến chứng nhẹ của bệnh là nhiễm trùng da nơi mụn nước; các biến chứng nặng hơn có thể gây nhiễm trùng huyết, viêm phổi, viêm não, viêm tiểu não…  có thể nguy hiểm đến tính mạng và để lại di chứng sau này.

Đặc biệt sau khi bệnh nhân đã khỏi bệnh, siêu vi thủy đậu vẫn còn tồn tại trong các hạch thần kinh dưới dạng bất hoạt (ngủ đông); nhiều năm sau đó khi có điều kiện như sức đề kháng cơ thể kém hay có yếu tố khác, thì siêu vi này sẽ tái hoạt động trở lại.

Phụ nữ mang thai nếu mắc bệnh thủy đậu sẽ rất nguy hiểm vì sẽ dễ bị biến chứng nặng; ở 3 tháng đầu của thai kỳ, virus sẽ gây sẩy thai, hay khi sinh ra trẻ sẽ bị thủy đậu bẩm sinh với nhiều dị tật như đầu nhỏ, co gồng tay chân, bại não, sẹo bẩm sinh…

Nếu bị bệnh trong những ngày sắp sinh hay sau sinh trẻ sinh ra sẽ bị bệnh rất nặng với mụn nước nổi nhiều và dễ bị biến chứng viêm phổi.

5. Cách phòng thủy đậu và điều trị

- Vệ sinh cá nhân sạch sẽ.

- Ăn uống đủ chất, uống nhiều nước trong ngày.

- Hạn chế tiếp xúc với người bị bệnh để phòng tránh lây lan.Những trường hợp mắc bệnh thủy đậu cần được nghỉ học hoặc nghỉ làm việc từ 7 đến 10 ngày từ khi bắt đầu phát hiện bệnh để tránh lây lan cho những người xung quanh.

- Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng, sử dụng các đồ dùng sinh hoạt riêng, vệ sinh mũi họng hàng ngày bằng dung dịch nước muối sinh lý.

- Vệ sinh nhà cửa, phòng học thoáng mát, gọn gàng, sạch sẽ. Vệ sinh vật dụng sinh hoạt bằng dung dịch sát khuẩn thông thường.

- Tiêm chủng ngừa vaccine thủy đậu có khả năng phòng bệnh tuyệt đối từ 80 đến 90%.

 Tất cả trẻ em từ 12 đến 18 tháng tuổi được tiêm 1 lần.

 Trẻ em từ 19 tháng tuổi đến 13 tuổi chưa từng bị thủy đậu tiêm 1 lần.

 Trẻ em trên 13 tuổi và người lớn chưa từng bị thủy đậu thì nên tiêm 2 lần, nhắc lại cách nhau từ 4 đến 8 tuần.

Có khoảng 10% còn lại bị thủy đậu sau khi tiêm chủng nhưng các trường hợp này cũng chỉ bị nhẹ, với rất ít nốt mụn (khoảng dưới 50 nốt) và thường là không bị biến chứng.

- Cho người bệnh đi khám ngay và điều trị theo hướng dẫn của bác sĩ. Không  tự ý dùng thuốc hoặc điều trị theo những cách không có cơ sở khoa học.

Bài viết liên quan